Hành trình xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Ngày 3/10/1945, chưa đầy một tháng sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 41-SL về tổ chức các cơ quan chuyên môn của Chính phủ. Đây là dấu mốc quan trọng đặt nền móng cho hoạt động quản lý đất đai của Nhà nước Việt Nam mới. Ngày 3/10 cũng được chọn làm Ngày truyền thống của ngành quản lý đất đai Việt Nam.
Trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là quản lý chặt chẽ đất đai, mà phải khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực này, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Ảnh: Tùng Đinh.
Từ yêu cầu cấp thiết của một đất nước vừa giành độc lập, trải qua các cuộc kháng chiến, thống nhất đất nước, đổi mới và hội nhập quốc tế, công tác quản lý đất đai từng bước trưởng thành, đáp ứng yêu cầu phát triển của từng thời kỳ.
Nếu trong những năm đầu, nhiệm vụ trọng tâm là giải quyết vấn đề ruộng đất, bảo đảm quyền lợi của người nông dân và tổ chức lại nguồn lực đất đai, thì trong thời kỳ đổi mới, đất đai ngày càng được nhìn nhận đầy đủ hơn với vai trò là nguồn lực quan trọng của nền kinh tế.
Cùng với những đổi thay của đất nước, tổ chức bộ máy quản lý đất đai cũng không ngừng được kiện toàn để đáp ứng yêu cầu từng thời kỳ. Trải qua 81 năm, ngành từng trực thuộc Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp, có thời kỳ là cơ quan trực thuộc Chính phủ, sau đó thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đến năm 2025, khi Bộ Tài nguyên và Môi trường hợp nhất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngành Quản lý đất đai trở lại trong hệ thống cơ quan quản lý nông nghiệp. Đây là sự thay đổi có ý nghĩa, tạo điều kiện tăng cường sự gắn kết giữa quản lý đất đai với phát triển nông nghiệp, nông thôn và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai.
Hành trình 81 năm hình thành và phát triển của ngành quản lý đất đai Việt Nam. Đồ họa. AI.Chia sẻ với báo Nông nghiệp và Môi trường nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành quản lý đất đai (3/10/1945-3/10/2026), ông Đào Trung Chính, Cục trưởng Cục Quản lý đất đai nhấn mạnh: 81 năm nhìn lại cũng là 81 năm chính sách, pháp luật đất đai không ngừng được hoàn thiện. Từ Luật Đất đai năm 1987, đến các Luật Đất đai năm 1993, 2003, 2013 và 2024, hệ thống pháp luật từng bước xác lập rõ hơn quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, cơ chế phân bổ nguồn lực và trách nhiệm quản lý nhà nước.
Ngày nay, trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là quản lý chặt chẽ đất đai, mà phải khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực này, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan đã đặt vấn đề đất đai trong một tầm nhìn mới: quản lý chặt chẽ, minh bạch, công bằng, hiệu quả, bền vững; đưa đất đai trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước. Đây cũng là cơ sở chính trị quan trọng để tiếp tục hoàn thiện Luật Đất đai nói riêng và chính sách đất đai nói chung.
Thể chế mở đường, dữ liệu làm nền tảng
Đất đai có mối quan hệ với hầu hết các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội. Quy hoạch sử dụng đất gắn với không gian phát triển; giao đất, cho thuê đất gắn với đầu tư; thu hồi đất liên quan trực tiếp đến đời sống người dân; giá đất tác động đến thị trường bất động sản và chi phí của nền kinh tế.
Ông Đào Trung Chính cho rằng, trong thời gian tới đất đai phải được quản lý bằng pháp luật minh bạch, dữ liệu đầy đủ và công nghệ hiện đại; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, người dân, doanh nghiệp và các thế hệ tương lai. Ảnh: Tùng Đinh.
Bởi vậy, chính sách, pháp luật đất đai không chỉ điều chỉnh quan hệ đất đai mà còn tạo nền tảng cho nhiều lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến tài nguyên, đầu tư, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản, tài chính và các giao dịch dân sự.
Qua từng giai đoạn, hệ thống pháp luật đất đai đã từng bước được hoàn thiện. Luật Đất đai năm 2024 tiếp tục thể chế hóa nhiều chủ trương lớn, đồng thời tạo cơ sở để giải quyết những vấn đề tồn tại trong quản lý và sử dụng đất.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy nhiều vấn đề mới tiếp tục phát sinh. Một số quy định cần được điều chỉnh để phù hợp hơn với yêu cầu phát triển, nhất là trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, đặt mục tiêu phát triển phát triển hai con số. Đây là một trong những nội dung được đặt ra trong quá trình triển khai Nghị quyết 21-NQ/TW.
Ngày 13/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 229/NQ-CP về kế hoạch thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW và Kế hoạch số 07-KH/TW của Bộ Chính trị. Kế hoạch yêu cầu tổ chức thực hiện thống nhất, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.
Trong quá trình xây dựng Luật Đất đai sửa đổi, yêu cầu này càng có ý nghĩa quan trọng. Một đạo luật có phạm vi tác động rộng phải xử lý đồng thời nhiều mối quan hệ, từ quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giá đất, tài chính đất đai và phát triển thị trường quyền sử dụng đất.
Ngày 9/9, tại cuộc họp về các dự án Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu các cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu đầy đủ ý kiến, rà soát để bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Trung ương tại Nghị quyết 21-NQ/TW; đồng thời tổ chức lấy ý kiến rộng rãi, thực chất đối với các dự án luật.
Đây là yêu cầu phù hợp với tính chất đặc biệt của pháp luật đất đai. Mỗi quy định về đất đai đều có thể tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích và trách nhiệm của nhiều chủ thể. Nếu quy hoạch thiếu ổn định, nguồn lực có thể bị phân bổ không hiệu quả. Nếu thông tin đất đai thiếu minh bạch, chi phí giao dịch tăng. Nếu giá đất không phù hợp, chi phí đầu vào của nền kinh tế có thể bị tác động. Nếu quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất chưa rõ ràng, tranh chấp và khiếu nại có thể phát sinh.
Do đó, sửa Luật Đất đai không chỉ nhằm tháo gỡ những vướng mắc trước mắt, mà phải hướng tới xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, ổn định và có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài.
Cùng với thể chế, dữ liệu đang trở thành nền tảng mới của quản lý đất đai. Trong nhiều thập kỷ, hồ sơ địa chính được hình thành qua nhiều thời kỳ, với phương pháp đo đạc, lập bản đồ và cập nhật biến động khác nhau. Việc số hóa, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu vì thế trở thành nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt.
Những kết quả hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai tính tới 25/8/2026. Đồ họa: Trường Giang.Đến nay, cả nước cơ bản hoàn thành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu với tỷ lệ trên 97% diện tích; đo đạc, lập bản đồ địa chính trên phần lớn diện tích tự nhiên. Theo báo cáo của 34 tỉnh, gần 68,3 triệu thửa đất đã có cơ sở dữ liệu, trong đó có 47,7 triệu thửa đất bảo đảm tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống” và quản lý tập trung. 34/34 tỉnh, thành phố đã kết nối, chia sẻ dữ liệu đất đai với dữ liệu dân cư; nhiều địa phương liên thông dữ liệu với cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính, cắt giảm một số thành phần thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Những kết quả này cho thấy quản lý đất đai đang chuyển mạnh từ phương thức dựa vào hồ sơ giấy sang quản lý bằng dữ liệu. Mục tiêu không chỉ là số hóa tài liệu. Dữ liệu phải “đúng, đủ, sạch, sống”, được cập nhật thường xuyên, kết nối và chia sẻ để phục vụ quản lý nhà nước và người dân, doanh nghiệp.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa, Nhà nước có thể nắm chắc hơn từng thửa đất, từng biến động, từng quyền và nghĩa vụ gắn với đất. Đây là cơ sở để nâng cao chất lượng quy hoạch, quản lý thị trường, xác định nghĩa vụ tài chính, giải quyết thủ tục hành chính và kiểm soát việc sử dụng đất.
Phát huy nguồn lực cho phát triển bền vững
Trong nhiều năm, đất đai đã tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước, góp phần huy động nguồn lực đầu tư phát triển. Riêng năm 2024, tổng thu từ đất đạt hơn 304 nghìn tỷ đồng; nguồn thu từ đất bình quân chiếm khoảng 12-15% ngân sách nhà nước, một số địa phương đạt hơn 30%. Nhưng giá trị đất đai không chỉ nằm ở nguồn thu ngân sách.
Một quỹ đất được quy hoạch hợp lý có thể tạo không gian phát triển đô thị, công nghiệp và hạ tầng. Đất nông nghiệp được tập trung phù hợp có thể tạo điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Một hệ thống thông tin minh bạch có thể giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là chuyển từ tư duy “quản lý đất đai” sang “quản trị nguồn lực đất đai” trên nền tảng pháp luật, dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Nghị quyết 21-NQ/TW xác định đất đai phải được quản lý, khai thác và sử dụng tiết kiệm, bền vững, hiệu quả; bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đất nông nghiệp được tập trung phù hợp có thể tạo điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Ảnh: Tùng Đinh.
Nhà nước thực hiện quyền của đại diện chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất; quyết định chính sách và thực hiện điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra. Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định của pháp luật, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình.
Trong quá trình sửa Luật Đất đai, vấn đề giá đất tiếp tục được đặt ở vị trí quan trọng. Yêu cầu đặt ra là hoàn thiện cơ chế để giá đất được xác định phù hợp với thực tiễn, đồng thời bảo đảm Nhà nước có công cụ điều tiết, hạn chế tác động tiêu cực đến chi phí đầu vào của nền kinh tế và thị trường bất động sản.
Cùng với đó là yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, người có đất bị thu hồi và nhà đầu tư. Đây là những vấn đề trực tiếp quyết định hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đai và sự đồng thuận xã hội.
Từ những hồ sơ địa chính đầu tiên đến cơ sở dữ liệu đất đai hiện đại; từ Luật Đất đai năm 1987 đến Luật Đất đai năm 2024 và quá trình sửa đổi hiện nay, tư duy quản lý đất đai đã không ngừng thay đổi cùng sự phát triển của đất nước.
Ngày 23/9/2026, dự thảo Luật Đất đai sửa đổi được đưa lên ứng dụng VNeID để lấy ý kiến Nhân dân trong 15 ngày. Đây là thêm một kênh để người dân tham gia vào quá trình xây dựng chính sách liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của mình.
Cục trưởng Đào Trung Chính cho rằng, 81 năm trước, nhiệm vụ đặt ra là xây dựng nền quản lý đất đai của một Nhà nước độc lập. Hướng tới 100 năm thành lập đất nước (1945 - 2045) cũng là 100 năm thành lập ngành, yêu cầu đã khác trước tình hình phát triển mới. Đất đai phải được quản lý bằng pháp luật minh bạch, dữ liệu đầy đủ và công nghệ hiện đại; quyền sử dụng đất phải được xác lập rõ ràng; thị trường phải vận hành công khai; nguồn lực phải được phân bổ hiệu quả; đồng thời phải bảo đảm lợi ích của Nhà nước, người dân, doanh nghiệp và các thế hệ tương lai.
Triển khai Nghị quyết 21-NQ/TW và xây dựng Luật Đất đai sửa đổi việc tiếp nối hành trình 81 năm của ngành Quản lý đất đai, hướng tới một nền quản trị hiện đại, trong đó đất đai không chỉ được bảo vệ, quản lý chặt chẽ mà còn được phát huy đầy đủ giá trị, trở thành nguồn lực chiến lược phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Theo ông Đào Trung Chính, Cục trưởng Cục Quản lý đất đai, thời gian tới ngành tập trung vào ba nhiệm vụ lớn: bảo đảm cân đối quỹ đất cho phát triển bền vững, đưa đất đai trở thành nguồn lực quan trọng hàng đầu cho phát triển kinh tế-xã hội; sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, duy trì dư địa phát triển cho các thế hệ tương lai; đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, tăng cường kiểm tra, giám sát và nâng cao năng lực thực thi. Đó cũng là những yêu cầu xuyên suốt trong chặng đường phát triển mới của ngành.