Sign In

Tỉnh Ninh Bình sửa đổi một số quy định liên quan đến chính sách đất đai trên địa bàn tỉnh

16:47 22/10/2026

  Chọn cỡ chữ A a  

Infographic (Quyết định số 134/2026/QĐ-UBND ngày 20/10/2026)

Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã ban hành Quyết định số 134/2026/QĐ-UBND ngày 20/10/2026 về sửa đổi một số quy định liên quan đến chính sách đất đai trên địa bàn tỉnh. Quyết định tập trung điều chỉnh, bổ sung các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng sang mục đích khác; hạn mức giao đất, công nhận đất ở và các giấy tờ khác về quyền sử dụng đất có trước ngày 15/10/1993.

Điều chỉnh quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Đối với chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Quyết định số 134/2026/QĐ-UBND điều chỉnh một số nội dung tại Quyết định số 190/2025/QĐ-UBND ngày 31/12/2025 của UBND tỉnh Ninh Bình. Trong đó, một số quy định về trình tự giải quyết công việc tại cấp xã được điều chỉnh theo hướng thay việc trình Chủ tịch UBND cấp xã bằng trình UBND cấp xã tại các điều, khoản có liên quan. Đồng thời, nội dung quy định tại Điều 13 được điều chỉnh từ UBND tỉnh sang HĐND tỉnh.

Việc điều chỉnh này góp phần làm rõ chủ thể thực hiện và thẩm quyền đối với các nội dung liên quan đến chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tạo cơ sở để các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện thống nhất trong quá trình thu hồi đất và giải quyết quyền lợi của người có đất thu hồi.

Làm rõ điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng sang mục đích khác

Đối với việc chuyển mục đích sử dụng diện tích dưới 02 ha đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng và đất rừng sản xuất sang mục đích khác, Quyết định số 134/2026/QĐ-UBND sửa đổi các tiêu chí, điều kiện đã được quy định tại Điều 3 Quyết định số 191/2025/QĐ-UBND ngày 31/12/2025, đồng thời bãi bỏ Điều 4 của Quyết định này.

Theo quy định được sửa đổi, việc chuyển mục đích sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, bao gồm quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện đã được phê duyệt trước ngày 01/7/2025; chỉ tiêu sử dụng đất trong phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai của quy hoạch tỉnh được phân bổ đến đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn. 

hợp pháp luật có quy định khác về căn cứ xác định sự phù hợp quy hoạch thì thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành.

Bên cạnh yêu cầu về quy hoạch, việc chuyển mục đích sử dụng đất phải gắn với dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, trừ trường hợp không phải lập dự án đầu tư; đồng thời phải hoàn thành nghĩa vụ trồng rừng thay thế và thực hiện các thủ tục về môi trường theo quy định pháp luật.

Việc điều chỉnh các tiêu chí, điều kiện này góp phần làm rõ căn cứ xem xét chuyển mục đích sử dụng đối với những loại đất có yêu cầu quản lý chặt chẽ, bảo đảm sự đồng bộ giữa quy hoạch, đầu tư, bảo vệ rừng và môi trường. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất, gắn khai thác tiềm năng đất đai với yêu cầu bảo vệ tài nguyên và phát triển bền vững.

Điều chỉnh hạn mức công nhận đất ở, giao đất và quy định về giấy tờ quyền sử dụng đất

Đối với các quy định về hạn mức giao đất, công nhận đất ở và giấy tờ về quyền sử dụng đất, Quyết định số 134/2026/QĐ-UBND sửa đổi một số nội dung tại Quyết định số 193/2025/QĐ-UBND ngày 31/12/2025 của UBND tỉnh Ninh Bình, tập trung vào việc cụ thể hóa hạn mức công nhận đất ở, hạn mức giao đất nông nghiệp và các căn cứ xác định quyền sử dụng đất.

Về hạn mức công nhận đất ở, đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 và có giấy tờ về quyền sử dụng đất thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 đến khoản 7 Điều 137 Luật Đất đai, mức công nhận được xác định theo thời điểm hình thành thửa đất và địa bàn hành chính, cụ thể hóa quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 141 Luật Đất đai. Đối với thửa đất hình thành trước ngày 18/12/1980, hạn mức công nhận đất ở không quá 600 m² tại địa bàn phường và 1.000 m² tại địa bàn xã. Đối với thửa đất hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993, hạn mức tương ứng không quá 180 m² tại phường và 400 m² tại xã.

Bên cạnh đó, quy định về các trường hợp không áp dụng hạn mức giao đất ở cũng được điều chỉnh theo hướng làm rõ từng trường hợp cụ thể. Ngoài trường hợp giao đất do trúng đấu giá quyền sử dụng đất, nội dung sửa đổi còn bao gồm: bồi thường về đất đối với diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP; bồi thường toàn bộ diện tích đất thu hồi trong trường hợp diện tích thu hồi nhỏ hơn hạn mức giao đất ở theo điểm b khoản 3 Điều 8 Nghị định này; bồi thường diện tích đất theo 

diện tích thực tế bị thu hồi đã làm nhà ở theo khoản 3 Điều 9 Nghị định này. Trường hợp xử lý các thửa đất nhỏ hẹp, nằm xen kẹt theo điểm n khoản 3 Điều 124 Luật Đất đai cũng thuộc trường hợp không áp dụng hạn mức giao đất ở.

Đối với đất nông nghiệp do tự khai hoang, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có tranh chấp được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 176 Luật Đất đai; phần diện tích vượt hạn mức phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước.

Đối với việc giao đất chưa sử dụng cho cá nhân để đưa vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, hạn mức được xác định cụ thể theo từng loại đất. Theo đó, đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất trồng cây lâu năm không quá 02 ha đối với mỗi loại; đất rừng phòng hộ và đất rừng sản xuất là rừng trồng không quá 10 ha đối với mỗi loại. Trường hợp cá nhân được giao nhiều loại đất trong nhóm đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối thì tổng hạn mức không quá 05 ha; trường hợp được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đối với loại đất này không quá 02 ha; trường hợp được giao thêm đất rừng sản xuất là rừng trồng thì hạn mức đối với loại đất này không quá 05 ha. Đáng chú ý, diện tích đất chưa sử dụng được giao theo các hạn mức này không tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp và hạn mức xác định diện tích đất nông nghiệp do tự khai hoang được cấp Giấy chứng nhận.

Một nội dung khác được điều chỉnh là quy định về các giấy tờ khác về quyền sử dụng đất có trước ngày 15/10/1993. Bên cạnh các giấy tờ đã được pháp luật quy định, Quyết định làm rõ việc sử dụng bản đồ, sổ mục kê được lập trước thời điểm này, có đầy đủ thông tin về người sử dụng đất và loại đất đối với địa bàn không có hệ thống hồ sơ địa chính nào khác được lập trước ngày 15/10/1993, đồng thời được UBND cấp xã xác nhận đã sử dụng đất ổn định trước thời điểm này, trừ trường hợp sổ mục kê quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 137 Luật Đất đai. Các giấy tờ khác được đề cập gồm giấy tờ tặng cho quyền sử dụng đất được UBND cấp xã xác nhận đã sử dụng đất trước ngày 15/10/1993; phương án cân đối giá trị thửa đất thuộc hồ sơ đổi đất để xây dựng công trình công cộng được lập trước thời điểm này và đã được UBND cấp huyện phê duyệt, chấp thuận; danh sách các hộ sử dụng đất do UBND cấp huyện trước đây xác nhận khi xét cấp Giấy chứng nhận nhưng chưa được cấp.

Việc điều chỉnh các quy định về hạn mức giao đất, công nhận đất ở và giấy tờ về quyền sử dụng đất góp phần cụ thể hóa căn cứ xem xét đối với các trường hợp sử dụng đất có nguồn gốc, thời điểm 

hình thành khác nhau. Qua đó, tạo cơ sở để giải quyết hồ sơ đất đai tại địa phương được thống nhất, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

Quyết định số 134/2026/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/10/2026. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến chính sách đất đai góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý trong tổ chức thực hiện, làm rõ thẩm quyền, điều kiện và căn cứ giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn quản lý, sử dụng đất. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực thi chính sách, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh./.

File đính kèm:

Vũ Trà My

Ý Kiến