Sign In

Thành phố Đà Nẵng ban hành quy định một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

16:24 02/11/2026

  Chọn cỡ chữ A a  

UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành Quyết định số 154/2026/QĐ-UBND ngày 30/10/2026 quy định một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố theo Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội. Quy định cụ thể hóa các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND thành phố được giao tại điểm a khoản 11 và khoản 12 Điều 3 Nghị quyết số 254/2025/QH15. Đối tượng áp dụng gồm cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất và các đối tượng có liên quan.

Bồi thường đối với nhà ở, công trình bị ảnh hưởng

Theo Quy định, trường hợp nhà ở, công trình phục vụ đời sống phải tháo dỡ một phần nhưng phần còn lại vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện để ở thì ngoài phần diện tích trực tiếp bị tháo dỡ, người có đất thu hồi còn được bồi thường toàn bộ phần công trình nằm trong phạm vi bị chấn động. Phạm vi này được xác định căn cứ vào kết cấu chịu lực của công trình; đối với công trình không có khung chịu lực hoặc tường chịu lực thì tính từ ranh giới tháo dỡ vào 1 m.

Ngoài ra, người có đất thu hồi được bồi thường thêm chi phí sửa chữa, hoàn thiện phần công trình còn lại đối với diện tích tính từ hết phạm vi bị chấn động vào thêm 3 m nhân với 80% đơn giá bồi thường thiệt hại của nhà ở, công trình bị tháo dỡ. UBND cấp xã có trách nhiệm xác định phần công trình còn lại có bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện để ở.

Các chính sách hỗ trợ về đất, tài sản và ổn định đời sống

Đối với phần diện tích đất còn lại của thửa đất không đủ điều kiện được bồi thường, hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ bằng 80% mức giá bồi thường của loại đất có cùng mục đích sử dụng. Chính sách áp dụng đối với đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp không phải là đất ở theo các trường hợp quy định tại Điều 12, Điều 13 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP.

Đối với nhà ở, công trình, vật kiến trúc gắn liền với đất phục vụ đời sống, sản xuất không đủ điều kiện được bồi thường về tài sản, mức hỗ trợ được xác định theo thời điểm xây dựng: 80% đối với công trình xây dựng trước ngày 01/7/2004; 60% đối với công trình xây dựng từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014; 40% đối với công trình xây dựng từ ngày 01/7/2014 đến trước thời điểm công bố quy hoạch chi tiết thực hiện dự án. UBND cấp xã có trách nhiệm xác định thời điểm xây dựng làm căn cứ hỗ trợ.

Đáng chú ý, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp có nguồn gốc từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có đất ở nhưng không được công nhận là đất ở được hỗ trợ bằng 50% giá đất ở theo bảng giá đất cùng vị trí. Diện tích hỗ trợ không vượt quá hai lần hạn mức giao đất ở. Trường hợp chưa có đơn giá đất ở tại vị trí thu hồi, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phối hợp với cơ quan chuyên môn cấp xã khảo sát, đề xuất đơn giá tại vị trí tương tự để trình cấp có thẩm quyền xem xét. Nếu tổng giá trị bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ lớn hơn đơn giá bồi thường đất ở cùng vị trí thì mức bồi thường, hỗ trợ được tính bằng đơn giá bồi thường đất ở.

Bên cạnh đó, hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ chi phí tự tháo dỡ, phá dỡ nhà ở, công trình bằng 10% tổng giá trị bồi thường thiệt hại, tối đa 30 triệu đồng đối với mỗi nhà, nhà ở, công trình (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 Luật Đất đai); hỗ trợ chi phí thu hoạch cây trồng, vật nuôi bằng 10% giá trị bồi thường thiệt hại, không tính các khoản hỗ trợ, tối đa 30 triệu đồng.

Về ổn định đời sống, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân khác, có xác nhận của người sử dụng đất, được hỗ trợ trong 4 tháng, mức tương đương 24 kg gạo/người/tháng.

Đối với hộ gia đình có người có công với cách mạng hoặc thân nhân người có công, hộ nghèo, cận nghèo, người khuyết tật, người mắc bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo và người neo đơn, nếu đủ điều kiện được bồi thường về đất, ngoài các khoản bồi thường, hỗ trợ theo quy định còn được hỗ trợ một lần/hộ/dự án. Mức hỗ trợ gồm 3 tháng lương tối thiểu đối với các nhóm người có công thuộc diện quy định tại điểm a; 2,5 tháng đối với các nhóm thuộc điểm b; 2 tháng đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế và người được tặng Huy chương kháng chiến; 1,5 tháng đối với hộ nghèo, cận nghèo, người khuyết tật, người mắc bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo và người neo đơn. Trường hợp một hộ có nhiều đối tượng đủ điều kiện thì được cộng dồn các mức hỗ trợ tương ứng.

Hỗ trợ tiền thuê nhà, nâng hạ cốt nền và hoạt động sản xuất

Đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở, không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở nhưng đã bàn giao mặt bằng và thuộc đối tượng được giao đất ở có thu tiền sử dụng đất, mức hỗ trợ tiền thuê nhà trong thời gian chờ giao đất là 270 kg gạo/tháng đối với hộ có từ 6 nhân khẩu trở xuống; từ nhân khẩu thứ 7 trở lên được hỗ trợ thêm 25 kg gạo/người/tháng. Khi nhận đất thực tế, hộ tiếp tục được hỗ trợ 6 tháng tiền thuê nhà trong thời gian xây dựng nhà ở. Trường hợp có nhà ở riêng trên đất ở của người khác phải tháo dỡ toàn bộ, đã bàn giao mặt bằng và thuộc đối tượng được giao đất ở tái định cư, mức hỗ trợ bằng 80% mức hỗ trợ nêu trên. Các trường hợp phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần nhà ở phải sửa chữa, cũng như trường hợp đủ điều kiện tái định cư nhưng tự lo chỗ ở, được hỗ trợ 6 tháng tiền thuê nhà theo điều kiện quy định.

Đối với trường hợp thu hồi một phần thửa đất có nhà ở, công trình phục vụ đời sống làm ảnh hưởng việc đi lại do chênh lệch cao trình so với đường giao thông, Quy định cho phép hỗ trợ chi phí nâng, hạ cốt nền, sửa chữa vật kiến trúc, tạo lối đi hoặc xây dựng tường chắn tùy tình trạng thực tế. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phối hợp với cơ quan chuyên môn cấp xã, chủ đầu tư và đơn vị liên quan lập phương án, dự toán hỗ trợ trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

Đối với hộ gia đình, cá nhân có nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu từ chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung, nghề khai thác thủy, hải sản, dịch vụ thủy, hải sản bị thu hồi đất ở gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở hoặc tái định cư trên phần đất còn lại, được hỗ trợ ổn định đời sống trong 12 tháng, mức tương đương 30 kg gạo/người/tháng.

Riêng hộ gia đình, cá nhân sinh sống chủ yếu bằng nghề khai thác thủy sản bằng rớ quay, rớ đáy, đăng, nò trên sông bị ảnh hưởng trong phạm vi dự án được hỗ trợ ổn định đời sống trong 6 tháng nếu có địa điểm khai thác mới hoặc 12 tháng nếu phải thanh lý toàn bộ ngư lưới cụ do không còn địa điểm khai thác mới. Chi phí di chuyển công cụ khai thác đến địa điểm mới được hỗ trợ tối đa 30 triệu đồng/hộ/dự án. Trường hợp thuộc nhóm khai thác thủy sản này còn ngành nghề khác để sinh sống thì mức hỗ trợ ổn định đời sống bằng 50% mức hỗ trợ quy định tương ứng.

Đối với trường hợp đặc biệt phát sinh ngoài các nội dung quy định tại Điều 3 và Điều 4, UBND thành phố xem xét tình hình thực tế để quyết định biện pháp, mức hỗ trợ khác đối với từng dự án cụ thể.

Trách nhiệm tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành

Quy định phân công trách nhiệm cho UBND các cấp, các sở, ngành và đơn vị liên quan trong tổ chức thực hiện. Trong đó, Sở Tài chính thực hiện thẩm tra, phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Sở Xây dựng rà soát, đề xuất điều chỉnh đơn giá bồi thường nhà ở, công trình và hướng dẫn xác định tính hợp pháp của tài sản; Sở Nội vụ phối hợp thực hiện chính sách đối với người có công.

Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hướng dẫn thực hiện Quy định; rà soát, đề xuất điều chỉnh đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng, vật nuôi khi có biến động; tổng hợp những khó khăn, vướng mắc và báo cáo UBND thành phố xem xét, điều chỉnh. Sở Công Thương thẩm định thiết kế, dự toán chi phí tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt lại hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Trung tâm Phát triển quỹ đất, các tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chủ đầu tư và các đơn vị liên quan có trách nhiệm phối hợp kiểm tra, xác định tài sản, lập phương án, tổ chức chi trả và thực hiện các thủ tục theo quy định.

Đối với các dự án đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Quy định có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê duyệt. Trường hợp đã có quyết định thu hồi đất nhưng chưa có quyết định phê duyệt phương án thì thực hiện theo Quy định này.

Quyết định số 154/2026/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/10/2026. Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực, Điều 16 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 31/2024/QĐ-UBND ngày 07/10/2024 của UBND thành phố Đà Nẵng và Điều 13 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 31/2024/QĐ-UBND ngày 25/10/2024 của UBND tỉnh Quảng Nam hết hiệu lực thi hành./.

File đính kèm:

Vũ Trà My

Ý Kiến