Sign In

Dấu chân những người mở đường lĩnh vực đất đai

18:42 03/10/2026

  Chọn cỡ chữ A a  

Từ những căn phòng đơn sơ và thiết bị thiếu thốn, các thế hệ cán bộ đất đai đã mở đường xây dựng nền tảng pháp lý, khoa học và kỹ thuật cho ngành.

Ngày 3/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập bộ máy nhà nước đầu tiên của chính quyền cách mạng, trong đó có Nha Địa chính Công sản trực thuộc Bộ Tài chính. Từ Nha Địa chính thuộc Bộ Tài chính đến Vụ Quản lý ruộng đất, Tổng cục Quản lý ruộng đất, Tổng cục Địa chính, Tổng cục Quản lý đất đai rồi Cục Quản lý đất đai hiện nay, các thế hệ cán bộ đã nỗ lực đóng góp cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm hậu phương cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền nam, thống nhất và phát triển đất nước.

Từ những căn phòng đơn sơ và thiết bị thiếu thốn, các thế hệ cán bộ đất đai đã mở đường xây dựng nền tảng pháp lý, khoa học và kỹ thuật cho ngành. Ảnh: T. Giang.

Từ những căn phòng đơn sơ và thiết bị thiếu thốn, các thế hệ cán bộ đất đai đã mở đường xây dựng nền tảng pháp lý, khoa học và kỹ thuật cho ngành. Ảnh: T. Giang.

Năm 1979, Tổng cục Quản lý ruộng đất được thành lập theo Nghị quyết số 548-NQ/QH ngày 24/5/1979 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định số 404-CP ngày 9/11/1979 của Hội đồng Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai và đo đạc-bản đồ trên phạm vi cả nước.

Đó cũng là thời kỳ tôi (TS. Nguyễn Đình Bồng, Phó Chủ tịch hội Khoa học Đất Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính - PV) có cơ duyên bước vào ngành Quản lý đất đai và được chứng kiến những bước đi đầu tiên của một ngành còn rất non trẻ.

Những ngày đầu gian khó

Tháng 10/1982, sau 12 năm công tác tại Hoàng Liên Sơn, tôi được điều động về Tổng cục Quản lý ruộng đất, làm chuyên viên Vụ Bản đồ sau đó làm tại Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên đất. Tôi còn nhớ trụ sở Tổng cục khi ấy ở Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội. Đó là một căn biệt thự hơn trăm năm tuổi nằm trên khu đất hẹp, bên cạnh là tòa nhà hai tầng mới xây dành cho các đơn vị sự nghiệp. Nơi này là trụ sở của Tổng cục từ năm 1079 đến 1993. Cả Tổng cục lúc đó chưa đến 100 cán bộ.

Phương tiện làm việc còn rất thiếu thốn. Toàn Tổng cục chỉ có một chiếc xe Lada dành cho lãnh đạo và hai chiếc UAT phục vụ các đơn vị. Công việc đo đạc chủ yếu dựa vào máy toàn đạc cải tiến, kết hợp với thước thép; bản đồ được in thủ công bằng phương pháp Ozalit.

Những năm tháng ấy, chúng tôi vừa làm, vừa học, vừa tìm tòi xây dựng phương pháp, quy trình nghiệp vụ cho một lĩnh vực quản lý còn non trẻ. Công việc nhiều, điều kiện thiếu thốn, nhưng cũng chính từ đó, tôi có cơ hội được làm việc, học hỏi những người lãnh đạo, những nhà khoa học và các đồng nghiệp đã dành nhiều tâm huyết cho ngành Quản lý đất đai.

Và một trong những người có ảnh hưởng sâu sắc đến tôi trong những năm tháng ấy là Phó Tổng cục trưởng Vũ Ngọc Tuyên, người mà tôi luôn kính trọng như một người thầy trong công việc và cuộc sống.

Người thầy từ những thửa ruộng

Phó Tổng cục trưởng Vũ Ngọc Tuyên (1922-2004) tốt nghiệp Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp Đông Dương. Trước Cách mạng Tháng Tám, ông thuộc thế hệ những nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam đầu tiên. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia kháng chiến, công tác tại Khu Nông chính Khu IV thuộc Nha Nông chính, Viện Trồng trọt Bộ Canh nông.

Lãnh đạo Tổng cục Quản lý ruộng đất thăm ông Vũ Ngọc Tuyên năm 1992. Ảnh: Đình Bồng.

Lãnh đạo Tổng cục Quản lý ruộng đất thăm ông Vũ Ngọc Tuyên năm 1992. Ảnh: Đình Bồng.

Giai đoạn 1955-1965, ông công tác tại Viện Khảo cứu Nông Lâm, tham gia nghiên cứu phân loại đất, xây dựng bản đồ đất. Công trình “Điều tra, phân loại, lập bản đồ đất Việt Nam” được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1980, ông là một trong sáu tác giả được vinh danh. Điều tôi nhớ nhất ở ông là cách ông gắn lý luận với thực tiễn. Ông không chỉ nói về đất đai trên giấy tờ mà luôn muốn chúng tôi đi đến tận nơi, nhìn tận thửa ruộng, đánh giá đất từ thực tế sản xuất.

Trong thập niên 80 của thế kỷ XX, ông là một trong những người đặt nền móng cho công tác quản lý đất đai Việt Nam. Từ thực tiễn quản lý, ngành từng bước xác định bảy nội dung quản lý nhà nước về đất đai, được thể hiện trong Quyết định số 201-CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chính phủ. Đó là điều tra, khảo sát và phân bố các loại đất; quy hoạch sử dụng đất; quy định các chế độ, thể lệ quản lý việc sử dụng đất; giao đất, thu hồi đất, trưng dụng đất; đăng ký, thống kê đất đai; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật đất đai; giải quyết tranh chấp đất đai.

Ông thường nhấn mạnh rằng các nội dung này có quan hệ hữu cơ với nhau, thiếu một nội dung thì quản lý đất đai sẽ không đạt hiệu quả cao. Tôi vẫn nhớ những năm 1982-1985, tôi cùng các đồng nghiệp được giao nghiên cứu, xây dựng quy trình phân hạng đất lúa nước cấp huyện và tổ chức thực hiện theo Chỉ thị 299-CP của Chính phủ. Dưới sự hướng dẫn của ông Vũ Ngọc Tuyên, chúng tôi lần lượt thí điểm phân hạng đất lúa nước tại huyện Đại Từ, Thái Nguyên, năm 1982 và huyện Cai Lậy, Tiền Giang, năm 1983.

Từ những kết quả thực tế đó, Phó Tổng cục trưởng Vũ Ngọc Tuyên  đã chủ trì hội nghị tổng kết, xây dựng và ban hành quy trình kỹ thuật hướng dẫn các địa phương thực hiện. Năm 1986, dự án phân hạng đất lúa nước khái quát toàn quốc được hoàn thành, phục vụ Chương trình phát triển lương thực, thực phẩm giai đoạn 1986-1990. Với tôi, đó không chỉ là một công việc chuyên môn. Đó còn là những bài học đầu tiên về cách làm khoa học, cách nhìn nhận đất đai và cách gắn công tác quản lý với thực tiễn sản xuất.

Ông Vũ Ngọc Tuyên đã dành cả cuộc đời cho sự phát triển của ngành Quản lý đất đai. Với trí tuệ sáng tạo, tâm huyết của một nhà khoa học và đạo đức trong sáng, gương mẫu của một người lãnh đạo, ông được nhiều thế hệ cán bộ trong ngành yêu mến, kính trọng. Với riêng tôi, ông là người thầy tận tâm đã dẫn dắt chúng tôi từng bước trưởng thành trong lĩnh vực chuyên môn.

Những bài học từ “người anh cả”

Năm 1991, tôi được điều động về Văn phòng Tổng cục Quản lý ruộng đất làm Phó Văn phòng, kiêm thư ký Tổng cục trưởng Tôn Gia Huyên.

Tổng Cục trưởng Tôn Gia Huyên (áo trắng, bên phải) kiểm tra công tác Đo đạc lập bản đồ Địa chính năm 1981. Ảnh: Đình Bồng.

Tổng Cục trưởng Tôn Gia Huyên (áo trắng, bên phải) kiểm tra công tác Đo đạc lập bản đồ Địa chính năm 1981. Ảnh: Đình Bồng.

Ông Tôn Gia Huyên sinh năm 1935 tại thành phố Huế, trong một gia đình trí thức cách mạng. Ông tốt nghiệp Viện Nghiên cứu Nông học Hoa Nam, Quảng Châu, Trung Quốc, khóa 1954-1958. Năm 1958, sau khi về nước, ông tình nguyện lên công tác tại Sở Nông Lâm khu tự trị Thái Mèo. Từ cán bộ chỉ đạo kỹ thuật nông nghiệp, ông tham gia xây dựng và giảng dạy tại trường Trung cấp Nông Lâm nghiệp đầu tiên của khu tự trị Thái Mèo, rồi làm cán bộ nghiên cứu tại Trạm thí nghiệm Cò Nòi Tây Bắc.

Sau 20 năm công tác tại khu tự trị, ông được điều về làm Vụ phó Vụ Quản lý ruộng đất Bộ Nông nghiệp. Năm 1977, ông được cử sang Cộng hòa Dân chủ Đức dự khóa đào tạo kỹ sư quản lý hệ sinh thái và bảo vệ môi trường do Liên hợp quốc tổ chức. Năm 1979, ông được Nhà nước bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý ruộng đất. Năm 1994, ông tiếp tục được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính.

Là thủ trưởng đầu tiên của cơ quan quản lý đất đai trực thuộc Chính phủ, ông dành tất cả thời gian và tâm huyết để xây dựng ngành, trước hết là xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai. Luật Đất đai năm 1987 là sắc  luật đầu tiên về đất đai trong thời kỳ đổi mới. Tiếp đó, Luật Đất đai năm 1993 từng bước xác định rõ quyền và trách nhiệm của người sử dụng đất, đặc biệt đối với nông dân được Nhà nước giao đất sử dụng ổn định lâu dài.

 

Ông cũng rất quan tâm xây dựng, củng cố bộ máy quản lý đất đai bốn cấp từ Trung ương, tỉnh, huyện đến xã; đặc biệt coi trọng đội ngũ cán bộ địa chính xã, những người trực tiếp quản lý đất đai từ cơ sở đến từng thửa đất và chủ sử dụng đất.

Khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế cũng được ông quan tâm. Dự án “Nghiên cứu khả thi hệ thống quản lý đất đai hiện đại ở Việt Nam-VIE 004” giai đoạn 1991-1993 đánh dấu bước đầu hợp tác giữa hai Chính phủ, tạo tiền đề để mở rộng hợp tác quốc tế trong phát triển hệ thống quản lý đất đai hiện đại ở Việt Nam.

Lễ ký kết dự án VIE 004 Hà Nội  vào tháng 7/1993. Ảnh: Đình Bồng.

Lễ ký kết dự án VIE 004 Hà Nội  vào tháng 7/1993. Ảnh: Đình Bồng.

Trong thời gian làm thư ký cho Tổng cục trưởng Tôn Gia Huyên, tôi rất ấn tượng về lối làm việc cẩn trọng, tỉ mỉ của ông. Những văn bản do các đơn vị trình qua Văn phòng đều được ông xem xét kỹ lưỡng, chỉnh sửa đến từng câu chữ, dấu chấm, dấu phẩy.

Có lần, ông trực tiếp sửa trên bản thảo gốc, những nét mực đỏ dày đặc gần như phủ kín các trang giấy, rồi giao tôi chuyển lại đơn vị để hoàn thiện và trình lại. Ông cũng nhắc tôi một nguyên tắc trong công việc: Văn phòng có trách nhiệm thẩm định, góp ý, nhưng không được làm thay những phần việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của đơn vị chuyên môn. Có lúc tôi nói với ông rằng, học đại học bốn năm, trải qua tám lần thi học kỳ và một lần bảo vệ luận văn tốt nghiệp; còn làm thư ký cho anh thì mỗi ngày em có cảm giác như trải qua một lần thi.

Những việc lớn như dự thảo Luật Đất đai, ông trực tiếp cùng cán bộ Vụ Pháp chế soạn thảo, biên tập từng điều. Các báo cáo cấp trên, bài báo, trả lời phỏng vấn truyền thông, ông cũng tự làm. Từ ông, tôi học được nhiều điều, từ đạo đức công vụ đến kỹ năng đọc, viết, tổng hợp, soạn thảo văn bản hành chính và chuyên môn.

Cán bộ trong ngành gọi ông là “Người Anh cả của ngành Quản lý đất đai”. Ông khiêm tốn chỉ nhận mình là người góp phần hiện thực hóa những bước đi ban đầu của ngành Địa chính Việt Nam trong kỷ nguyên đổi mới.

Từ nền móng đến một ngành chính quy

Năm 1994, Tổng cục Địa chính được thành lập trên cơ sở sáp nhập Tổng cục Quản lý ruộng đất và Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước.

Tổng cục trưởng Bùi Xuân Sơn (giữa) kiểm tra công tác Quản lý đất đai  tại Quảng Trị vào tháng 12/1997. Ảnh: Đình Bồng.

Tổng cục trưởng Bùi Xuân Sơn (giữa) kiểm tra công tác Quản lý đất đai  tại Quảng Trị vào tháng 12/1997. Ảnh: Đình Bồng.

Tôi vẫn nhớ sự thay đổi của ngành trong những năm này. Trụ sở Tổng cục Địa chính tại 83 Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội, có khuôn viên rộng với tòa nhà chính bốn tầng và hai tòa nhà ba tầng. Cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường rõ rệt.

Ảnh hàng không, viễn thám, định vị toàn cầu GPS, toàn đạc điện tử, công nghệ in bản đồ bằng máy Offset, hệ thống thông tin địa lý GIS và thông tin đất đai LIS từng bước được đưa vào công tác quản lý. Từ những chiếc máy đo đạc còn thô sơ và bản đồ in thủ công, chúng tôi đã bắt đầu tiếp cận những công nghệ mới của thế giới. Đó là một sự chuyển biến rất lớn đối với ngành.

Tháng 5/1996, ông Tôn Gia Huyên nghỉ hưu theo chế độ. Ông Bùi Xuân Sơn được Trung ương bổ nhiệm giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính. Tôi tiếp tục được giao làm Chánh Văn phòng Tổng cục Địa chính, kiêm thư ký Tổng cục trưởng Bùi Xuân Sơn. Tôi thường có mặt trong các buổi ông làm việc với lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành và địa phương. Qua đó tôi hiểu sâu sắc ông là nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị gắn bó với nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Ông thường xuyên đi cơ sở để nắm bắt tình hình, giải quyết những vấn đề khó khăn, phức tạp phát sinh trong quản lý đất đai.

Trong nhiệm kỳ 1996-2001, ngành Địa chính tiếp tục kiện toàn tổ chức, cán bộ từ Trung ương đến địa phương; thực hiện phân cấp, phân quyền; hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai; đẩy mạnh điều tra cơ bản đất đai, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.

Nhìn lại giai đoạn 1979-2001, tôi thấy mình may mắn được làm việc bên cạnh những người có phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ tốt, chuyên môn cao và đặc biệt tâm huyết với ngành.

Đó là các bác, các anh làm việc tại Tổng cục và các đơn vị trực thuộc: Chu Văn Thỉnh, Triệu Văn Bé, Mai Xuân Yến, Cao Tiến Nhuận, Nguyễn Thế Thanh, Cao Trọng Ruân, Nguyễn Đắc Tình, Nguyễn Khải, Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Dũng Tiến, Lê Tiến Vương, Đăng Văn Trình, Phạm Ngọc Chuyển, Phạm Công Ruyến, Phùng Văn Nghệ (quản lý đất đai) ; Nguyễn Văn Sử, Đặng Hùng Võ, Lê Thư, Trương Đình Lê, Nguyễn Kim Sơn, Nguyễn Đăng, Nguyễn Thông, Trần Bạch Giang; Lê Văn Thích, Tô Quang Thịnh,  Lê Phước Dũng, Lê Thế Tiến, Nguyễn Tiến Khang  (Đo đạc bản đồ)…;

Các bác, các anh, chị  lãnh đạo ngành Quản lý đất đai địa phương:  Nguyễn Văn Tám (Hà Nội),  Phạm Tùng Sâm (Yên Bái), Nguyễn Ngọc Châu (Tuyên Quang), Nguyễn Quang Thạch (Thái Nguyên), Đinh Văn Tờn, Lê Quang Chức (Nam Định), Trần Bạch Lan, Lê Huy Ái (Thanh Hóa), Nguyễn Doãn Sáng (Hà Tĩnh), Nguyễn Văn Thuận (Thừa Thiên Huế); Trần Văn Nam (Đà Nẵng) , Mai Đức Chính (Khánh Hòa),  Nguyễn Phú Sang (TP Hồ Chí Minh), Trương Minh Khiết (Tiền Giang), Đặng Như Hiển (Vũng Tầu), Nguyễn Lân (Đồng Nai), Phạm Thị Hương (Tây Ninh), Đỗ Văn Phú (Sóc Trăng), Tống Lê Thắng (Cà Mâu)…  cùng nhiều thế hệ cán bộ, công chức, viên chức Ngành Quản lý đất đai từ Trung ương đến địa phương.

Mỗi người ở một vị trí, một lĩnh vực, nhưng cùng góp sức xây dựng nền tảng pháp lý, kinh tế, kỹ thuật; kiện toàn bộ máy ngành từ Trung ương đến địa phương; góp phần phát huy nguồn lực đất đai cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tiếp nối những dấu chân

Nhìn lại những năm tháng đã qua, tôi thấy mình may mắn khi được làm việc bên cạnh những người lãnh đạo, những nhà khoa học và đồng nghiệp đã dành nhiều tâm huyết cho ngành Quản lý đất đai. Mỗi người một tính cách, một cách làm việc, nhưng đều để lại trong tôi những bài học quý về chuyên môn, trách nhiệm và đạo đức công vụ.

Tôi luôn trân trọng hình ảnh ông Tôn Gia Huyên, ở tuổi ngoài 90, vẫn tâm huyết truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm tích lũy qua hơn 70 năm hoạt động cho các thế hệ cán bộ ngành Quản lý đất đai. Sau này, khi tham gia giảng dạy, đào tạo sinh viên và nghiên cứu sinh, tôi cũng cố gắng truyền lại những điều mình đã học được từ các thế hệ đi trước.

Hơn bốn mươi năm trôi qua kể từ ngày tôi về công tác tại Tổng cục Địa chính, ngành đã có nhiều đổi thay. Từ những căn phòng làm việc đơn sơ, những chiếc máy đo đạc thô sơ và những tấm bản đồ in thủ công, các thế hệ cán bộ đã từng bước xây dựng nền tảng pháp lý, khoa học và kỹ thuật cho công tác quản lý đất đai.

Giờ đây, mỗi khi nhớ về những năm tháng ấy, điều hiện lên rõ nhất trong tôi vẫn là hình ảnh những người thầy, người đồng nghiệp đã cùng làm việc, cùng vượt qua khó khăn và tận tụy với nghề. Có người đã đi xa, có người vẫn tiếp tục dõi theo sự phát triển của ngành. Với tôi, những kỷ niệm và bài học từ họ vẫn còn nguyên giá trị, như một phần không thể thiếu trong cuộc đời làm nghề của mình. Đó là một phần ký ức mà tôi luôn trân trọng.

Trường Giang/mae.gov.vn

Ghi theo lời kể của TS. Nguyễn Đình Bồng, Phó Chủ tịch hội Khoa học Đất Việt Nam, nguyên PTCT Tổng cục Địa chính

Ý Kiến